Những nhà khoa học lỗi lạc nhất tin vào thuyết vô thần hay hữu thần?

Những nhà khoa học lỗi lạc số 1 tin vào thuyết vô thần hay là hữu thần?


Thứ sáu, 12/10/2018


Chia sẻ FBChia sẻ TwitterBình luậnTrên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một chuỗi mân côi , và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.Sau một hồi lâu, xem chừng chưa thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng:“Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?”Người thanh niên nghênh mặt trả lời:“Lúc nhỏ tôi có tin, Tuy nhiên bây giờ thực hiện sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên:“Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp cho tôi hiểu đã được chúng không?”Người sinh viên nhanh nhảu trả lời:“Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông cũng sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”Cụ già đến từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp , và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt , và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi:Louis Pasteur, viện khảo sát khoa học Paris.Louis Pasteur (Ảnh: biography.com)Louis Pasteur (Ảnh: biography.com)Đọc xong câu chuyện trên, bạn cảm thấy thú vị hay là băn khoăn nhiều hơn? Khoa học liệu có mâu thuẫn với tín ngưỡng vào Thần? Louis Pasteur chính là một trong những nhà khoa học vĩ đại số 1 trong lịch sử, với những khám phá về vi trùng, tẩy trùng, về tiêm chủng, miễn dịch… Người đặt nền tảng cho ngành vi sinh vật học này từng phát biểu: “Một ít khoa học làm ta xa rời Chúa; nhiều khoa học làm ta quay về với Chúa”Lấy cảm hứng từ câu nói của Pasteur, bài viết này cũng sẽ cố gắng tìm lại mối liên kết giữa khoa học và tín ngưỡng qua những dẫn chứng giản dị , và dễ hiểu nhất.


Khoa học chính là gì?


Khoa học hiện đại đã thẩm thấu vào hầu như mọi lĩnh vực có liên quan tới cuộc sống con người, đến nỗi rất nhiều nhiều người đã coi khoa học hiện đại cũng giống như chân lý một cách không tự biết, còn “phi khoa học” lại trở thành một danh từ đồng nghĩa với sai lầm. Trên thực tế từ khoa học (Science) bắt nguồn từ trong chữ La tinh, nghĩa nguyên gốc chính là “học vấn”, căn bản là chuyện khác với chân lý.Nói rộng ra, khoa học là chưa ngừng tìm kiếm những phương pháp để tiếp cận với quy luật của vũ trụ , và thể hệ kiến thức đã được hình thành từ đó. Khoa học hiện đại chính là một bộ những hệ thống và thể hệ tri thức, dùng hình thức logic và phương pháp chứng thực làm cơ sở để nhận thức , tìm kiếm quy luật của thế giới vật chất, ở đây chúng ta gọi nó là khoa học thực chứng.Từ nghĩa này, khoa học chứng thực hoàn toàn chưa đồng nghĩa với chân lý cuối cùng, và khoa học cần luôn sẵn sàng kiểm nghiệm lại sự vật , và cập nhật theo sự phát triển nhận thức của con người. Đồng thời chúng ta cũng không thể bảo đảm rằng phương pháp tìm kiếm của khoa học thực triệu chứng hiện đại chính là duy số 1 để tìm kiếm chân lý của vũ trụ.


Tính hạn chế của khoa học


Cùng với sự phát triển chóng mặt, khoa học hiện đại cũng đã dần dần mang tới cho nhân loại nhiều vấn đề đau đầu. Một lớp những chuyên gia có tầm nhìn xa đã bắt đầu nhận thức đã được giới hạn của khoa học hiện đại.Cơ sở triết học của khoa học triệu chứng thực đến từ phương Tây, đã phân chia thế giới hoàn chỉnh thành hai phạm trù độc lập: vật chất và tinh thần, do đó quan niệm về thiên nhiên đã được thiết lập đã phân tách con người và tự nhiên, con người , thế giới, tâm và vật. Hậu quả của nó là không thể triệu chứng minh được bản chất của hoạt động tinh thần, mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, tác dụng của tinh thần với vật chất, mà sinh mệnh của con người lại là một thể hợp nhất giữa tinh thần , và vật chất.Như vậy, hoạt động tinh thần nằm ngoài tầm mắt của khoa học thực chứng hiện đại, đạo đức lại chỉ chính là thuyết giáo thuần túy không có cơ sở vật chất, con người , thiên nhiên cũng chưa còn là một thể hoàn chỉnh. Một trong những hậu quả của nó là sự đối lập giữa con người và tự nhiên. Sự phát triển của khoa học do con người đóng vai trò chủ đạo lại có những thiếu sót rất lớn:James Watt phát minh ra động cơ hơi nước, đến từ đó đã mang lại cho Cách mạng Công nghiệp một thời đại mới sử dụng nguồn năng lượng nhiên liệu hóa dầu với quy mô lớn. Ai cũng chưa thể nghĩ đã được rằng nhân loại 200 năm sau cũng sẽ vì vậy mà rơi vào khó khăn do hiệu ứng nhà kính.Người ta cho rằng phát minh về chất làm lạnh mang tới cho nhân các loại vô số tiện ích, chưa ai nghĩ tới vài chục năm sau, nó đã phá hoại tầng ô-zôn, gần như đã trở thành sát thủ hủy diệt nhân loại.Cô-ca-in chính là loại thuốc công hiệu dùng gây mê trong ngành y, nhờ nó mà có nhiều sinh mạng đã được cứu. Nhưng ngày nay những người hút cô-ca-in đã dùng trăm phương nghìn kế để kiếm đã được nó. Không quá thổi phồng khi nói: Cô-ca-in hủy diệt mạng sống còn nhiều hơn số người nó cứu được.Khi Einstein phát hiện ra phương trình chuyển hóa giữa năng lượng , khối lượng (E=MC^2), ông chưa thể ngờ vài chục năm sau, vũ khí hạt nhân lại trở thành thanh gươm treo lơ lửng trên đầu nhân loại.Einstein-Time-magazine-675x400(ảnh: bìa tạp chí Times)Einstein từng nói: “Khoa học là một dụng cụ có sức mạnh. Sử dụng nó như thế nào, rốt cuộc chính là nó mang lại hạnh phúc hay là mang lại tai nạn cho con người, hoàn toàn quyết định ở bản thân mình, chứ không quyết định bởi công cụ.”Theo Einstein, khoa học đối với nhân loại là phúc hay là là họa, chưa thể giải quyết đến từ bản thân khoa học, chỉ con người tự mình mới có thể giải quyết. Về điểm này thì ông cho rằng, ngoài tôn giáo truyền thống (để phân biệt với tôn giáo bị pha tạp và biến chất) thì chưa giải pháp nào có thể so sánh được. Ông nói: “Nếu chúng ta cắt bỏ hết thảy tất cả những thứ sau này phụ thêm vào, đặc biệt là những thứ mà các giáo sĩ truyền giáo đã thêm thắt vào trong Đạo Ki-tô của Chúa Giê-su , và đạo Do Thái của những nhà tiên tri kiến lập, vậy thì sẽ lưu lại những giáo nghĩa có thể điều trị trị mọi bệnh tật của xã hội nhân loại.” Tại đây Einstein đã nhận thức được cục diện tương lai của khoa học hiện đại do tinh thần và vật chất bị tách rời nhau.Một nhà máy đốt rác thải , quang cảnh khu vực xung quanh ở Bangladesh (ảnh: Foundation for Deep Ecology)Một nhà máy đốt rác thải , quang cảnh khu vực xung quanh ở Bangladesh (ảnh: Foundation for Deep Ecology)Rất nhiều những nhà khoa học tỉnh táo đã nhận thức đã được vấn đề này. Năm 1992, Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội nghị Môi trường và Phát triển thế giới tại Rio de Janeiro thuộc Brazil, với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia. Một bức thư có chữ ký của hơn 120 người đoạt giải Nobel được đưa tới hội nghị, khiến mọi người bừng tỉnh. Trong bức thư viết: “Nhân các loại , thiên nhiên đã ở vào thế xung đột mãnh liệt. Những hoạt động của nhân các loại đã phá hoại nguy hiểm môi trường , và những tài nguyên trọng yếu, mà kiểu phá hoại này thường là không thể khôi phục lại. Nếu không kiểm điểm lại thì rất nhiều nhiều hoạt động của chúng ta cũng sẽ đặt xã hội nhân các loại , và các loài động thực vật vào tình thế cực kỳ nguy hiểm. Hơn nữa có thể còn khiến cả thế giới đầy sự sống này trở thành một thế giới không thể duy trì bất kỳ phương thức sự sống nào mà mọi người biết. Nhằm hạn chế những xung đột sắp tới, việc cải biến về bản chất (những hoạt động của con người) đã vô cùng cấp bách.”


Khoa học chân chính chưa phủ nhận thuyết hữu thần


Theo từ điển Oxford, trong một số tín ngưỡng như Cơ Đốc, Thần chính là đến từ dùng để chỉ đấng sáng tạo , và cai quản vũ trụ, , nguồn gốc của tất cả quy phạm đạo đức, một sinh mệnh cao cấp. Trong một số tín ngưỡng khác, Thần còn là sinh mệnh siêu phàm hay là một trí tuệ siêu thường, đã được con người thờ phụng. Như vậy, khái niệm “Thần” bao gồm cả Phật, Đạo, Thần bởi vì họ đều có trí huệ phi thường và năng lực vượt xa con người.Nếu chỉ nói về bản thân sự phát triển khoa học, nó hoàn toàn không chứng minh Thuyết vô Thần.Theo quan điểm tôn giáo chính thống, con người chính là do Thần tạo ra, con người phủ định sự tồn tại của Thần cũng giống như vi khuẩn được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm mưu đồ phủ nhận sự tồn tại của con người, là điều vô ích. Bởi vì đến từ phương pháp thực nghiệm của khoa học hiện đại, đối với việc triệu chứng thực Thuyết vô Thần, cần phải yêu cầu phủ định sự tồn tại của Thần tại tất cả phạm vi thời gian và chưa gian trong toàn vũ trụ, điều này đương nhiên cũng bao gồm cả phạm vi không gian và thời gian mà con người vĩnh viễn còn chưa nhận thức được.Vũ trụ cự đại, đa dạng, phức tạp như vậy, ai có thể đảm bảo được từ vĩ quan bao la tới vi quan vô hạn chỉ có con người là sinh mệnh cao cấp? Thậm chí ai có thể bảo đảm rằng hình thức tồn tại của sinh mệnh chỉ có thể dựa vào hình thức axit amin mà chúng ta biết?Xem thêm: Video: Phạm vi vũ trụ mà con người đã biếtNói sâu thêm một bước nữa, vũ trụ học hiện đại cho rằng vật chất tối (dark matter) chiếm 2/3 vũ trụ mà con người không thể quan sát, đo lường; tức chính là cho dù dùng hết kỹ thuật đo lường của nhân các loại thì vẫn còn 2/3 vũ trụ mọi người không hề biết. Vật lý lý luận hiện đại đưa ra lý luận thế giới phẳng, cho rằng vũ trụ của chúng ta không chỉ chính là không gian ba chiều như những gì chúng ta có thể cảm nhận được. Vậy thì ai có thể đảm bảo rằng chưa gian khác không có sinh mệnh cao cấp?Nếu chưa gian khác tồn tại sinh mệnh cao cấp, nếu họ có sự từ bi vượt rất nhiều xa so với con người, có đại trí huệ, ngộ đã được những chân lý của vũ trụ và có năng lực siêu phàm, vậy thì với con người mà nói, họ chẳng phải chính là Phật, Đạo, Thần sao? Do đó, dù về logic, kỹ thuật, hay là từ góc độ khoa học, thì đều triệu chứng minh rằng Thuyết vô Thần chưa thể thao túng được.Điều cần chỉ ra chính là chúng ta không phản đối bất kỳ một người nào tin thờ “Thuyết vô Thần”. Là một con người mà nói, tin Thần , không tin Thần lẽ ra nên là sự lựa chọn tự do không cần bàn cãi.Trong xã hội thông thường sẽ có người tín ngưỡng hữu Thần , và vô Thần hoàn toàn có thể cùng chung sống hòa bình. Nhưng khi chính phủ dùng thủ đoạn cưỡng chế nhồi nhét Vô Thần luận trong toàn xã hội, đàn áp tín ngưỡng vào Thần khiến mất đi tín ngưỡng của cả một xã hội, tất nhiên cũng sẽ khiến hệ thống giá trị xã hội truyền thống vốn có mất đi chỗ dựa, từ đó dẫn tới toàn xã hội trượt xuống vũng bùn của chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa túng dục.>> Giải mã bí mật ngàn năm của xá lợi Phật


Giáo dục nhồi nhét làm méo mó khoa học, kìm kẹp tư tưởng


Lấy Trung Quốc làm ví dụ, khi Giang Trạch Dân viếng thăm nước Mỹ đã hỏi tổng thống Bill Clinton: Vì sao khoa học nước Mỹ lại phát triển như vậy mà vẫn có nhiều người tín ngưỡng tôn giáo? Đây là một trong những ví dụ điển hình cho kiểu tư duy “một ít khoa học.”Kỳ thực, chính quyền Trung Quốc dốc toàn lực để nhồi nhét khoa học hiện đại, tuyên truyền cái gọi chính là “Thuyết vô Thần khoa học” mấy chục năm nay, vì sao đường đường một nước lớn với 1,3 tỷ dân lại chẳng có lấy một người đạt giải Nobel? (trừ Tu You You, mãi đến năm 2015). Còn những người hoa tại hải ngoại đạt giải Nobel ngược lại đều chưa từng bị nền giáo dục nhồi nhét?Kỳ thực chính quyền nhồi nhét khoa học hiện đại, hoàn toàn chưa phải chính là vì phát triển khoa học kỹ thuật, mà thực chất là để đàn áp tín ngưỡng, kìm kẹp tự do tư tưởng. Nhưng điều cần cho sáng tạo khoa học chính là một môi trường tư tưởng tự do. Giáo dục nhồi nhét chính là cực lực đối lập với khoa học và tín ngưỡng, hình thành một xu hướng tư duy cứng nhắc trong đầu óc nhân dân, cho rằng tín ngưỡng vào Thần số 1 định sẽ dẫn đến sự ngu dốt, dẫn đến “phản khoa học”, miêu tả những tín đồ tôn giáo chính là một nhóm người bị lừa gạt văn hóa thấp và tìm kiếm sự an ủi tâm linh.


Việc chuyên gia tin vào Thần chưa hề ngăn cản thành tựu khoa học


Trên thực tế, lần giở lịch sử mọi người cũng sẽ thấy, những chuyên gia vĩ đại trong thời kỳ khoa học phát triển đỉnh cao, gồm Copernicus, Descartes, Galileo và Newton đều tự xưng mình tuyệt đối tin vào Sáng thế chủ, cho rằng thế giới này, kiệt tác của Thần là có quy luật, đang đợi các chuyên gia đi phát hiện triệu chứng thực.Nghiên cứu khoa học và tín ngưỡng vào Thần của cá nhân chưa phải là mối quan hệ như nước với lửa. Có một sự thực không thể phủ nhận, một lượng lớn những chuyên gia lưu danh sử sách đều có tín ngưỡng tôn giáo, như:Kepler – người đặt nền móng cho thiên văn học hiện đại,Boyle- nhà tiên phong của hóa học hiện đại,Faraday – người chỉ ra nguyên lý điện giải,Morse – nhà phát minh ra điện báo,Maxwell – người chỉ ra sự tương đương giữa cơ , nhiệt,Master – nhà phát minh ra lý luận điện từ,Dalton – người được vinh danh chính là cha đẻ của lý luận nguyên tử,Mendel – người đặt nền móng cho di truyền học hiện đại,Fleming – người phát minh ra thuốc kháng sinh Penicillin,Pasteur – người sáng lập ra vi sinh vật học, đều là những tín đồ tôn giáo thành kính.Isaac-NewtonMột điều đáng nhắc tới chính là Newton – nhà vật lý học lỗi lạc, là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Trong nền giáo dục nhồi nhét, một số sách giáo khoa cố ý nói rằng những năm cuối đời Newton đã dấn thân vào tôn giáo , và do vậy không có thêm sáng tạo gì, khiến con người hiểu lầm rằng rất nhiều phát hiện khoa học những năm đầu đã được dẫn dắt bởi thế giới quan của “Thuyết vô Thần”, còn những năm cuối đời, tín ngưỡng tôn giáo đã gây trở ngại cho việc sáng tạo khoa học. Nhưng sự thực là Newton đã sớm chính là một tín đồ Cơ Đốc trước khi theo đuổi khảo sát khoa học, mà cả đời ông tín ngưỡng vào Thần không hề thay đổi.Khi Newton còn học tại trường Cambridge, ông đã sớm là một tín đồ Cơ Đốc thành kính. Ông thường hay là viết những lời cầu nguyện của mình vào những chỗ trống trong sổ tay hay là sách vở, thậm chí đến nay vẫn còn lưu giữ rất nhiều trong viện bảo tàng Anh. Ông cũng thường cùng với người bạn cùng phòng tên chính là Andrew Wiggins ra ngoài phân phát Thánh kinh cho người nghèo, gửi phúc âm tới cho họ.Thậm chí những suy xét về khoa học của Newton cũng có mối quan hệ không thể tách rời với những lời cầu nguyện trong cuộc sống của ông. Ông thường nghĩ tới khoa học trong dòng suy nghĩ về tín ngưỡng, trong dòng suy nghĩ về khoa học ông cũng nhớ tới tín ngưỡng. Đến nỗi sau này giáo sư Manuel khoa lịch sử trường đại học New York trong cuốn “Newton truyện” của mình đã nói: “Khoa học cận đại khởi nguồn từ những mặc niệm của Newton về Thượng đế.”Theo tiến sĩ Harriet Chad Zuckerman của trường Đại học Columbia nước Mỹ, năm 1977 trong tài liệu thống kê nổi tiếng “Anh tài khoa học – những người đoạt giải Nobel nước Mỹ”, đến từ năm 1901 khi thiết lập giải Nobel đến nay, trong 286 nhà khoa học đã đạt giải khoa học của nước Mỹ, 73% chính là tín đồ Cơ Đốc, 19% là tín đồ Do Thái.Richard Feynman – nhà vật lý học nổi tiếng từng đoạt giải Nobel đã nói: “Rất nhiều nhà khoa học quả thực vừa tin tưởng khoa học vừa tin vào Thượng đế,” mà hai điều này lại có thể thống số 1 một cách hoàn mỹ.Von Braun – nhà khoa học hàng không hiện đại đã từng viết một đoạn như sau, có thể coi là lời giải thích cho Feynman: “Sự thần kỳ vô biên của vũ trụ chỉ có thể chứng thực đức tin của chúng ra rằng, chắn chắn có Đấng sáng thế. Tôi chỉ ra rằng, việc lý giải một chuyên gia không thừa nhận tính siêu thường của vũ trụ , một nhà thần học phủ nhận sự tiến bộ của khoa học đều khó như nhau.”Phong Trần (T/H)Xem thêm:






Charles-Darwin (Ảnh: Getty Images)Chuyên đề: Cuộc khủng hoảng mang tên thuyết tiến hóa
Chúng ta chính là ai, đến từ đâu đến, rồi cũng sẽ về đâu?

Albert Einsteinđạo đức trong khoa họcLouis Pasteurnguỵ khoa họcÔ nhiễm môi trườngThần Phậtthuyết tiến hoáthuyết vô thần


2018-10-12